Black
Font

Khi những ngọn gió đông mang hơi nồm ẩm bắt đầu trở giấc giao mùa...


...gốc đào cổ ngoài sân vừa hé nụ hàm tiếu...

...mưa phùn giăng mắc trên những con phố - nơi các cửa tiệm bắt đầu bầy biện những xanh đỏ mũ mão, tranh giấy, vải vóc...

...chợ Đồng Xuân trở nên nhộn nhịp và màu sắc hơn những ngày thường bởi lá dong, cam, chuối, phật thủ, thuỷ tiên, hoa cúc…;

...như một điều hiển nhiên, không ai bảo ai, người Hà Nội xưa bắt đầu gác lại những bộn bề thường nhật để chuẩn bị cho một cái Tết Nguyên đán cận kề...

Trong tâm thức của người Việt từ bao đời nay, xuân là mùa của sự tái sinh, đoàn viên và khởi phát. Một năm mới bắt đầu bằng mùa xuân và Tết Nguyên đán chính là một dịp lễ đánh dấu thời khắc giao mùa, khép lại những bộn bề vất vả của một năm cũ; mở ra một chu kỳ thời gian mới, một sự khởi đầu mới với những ước vọng may mắn cùng niềm tin mãnh liệt về một tương lai tươi sáng, viên mãn và khởi sắc hơn những tháng ngày đã qua. Cũng chính vì vậy, Tết Nguyên đán không chỉ là một dịp lễ quan trọng mà còn là một biểu tượng văn hoá mang đậm tính nhân văn của người Việt.

Cùng với sự phát triển của xã hội và những tiếp biến văn hoá của kỷ nguyên hội nhập, nếp sinh hoạt trong dịp Tết Nguyên đán ngày nay đã đổi khác rất nhiều so với truyền thống ở tất cả các vùng miền trên cả nước. Tuy nhiên, có những phong tục vẫn sẽ mãi trường tồn cùng sức sống cả ngàn năm của lịch sử dân tộc.

Trong thời khắc giao hoà giữa thiên nhiên và con người, giữa năm cũ và năm mới này, kính mời quý độc giả cùng sống lại phong vị Tết xưa của người Hà Nội, cùng khám phá những phong tục Tết truyền thống của người Việt qua những hình ảnh tư liệu được chụp cách đây gần một thế kỷ, lưu trữ tại Thư viện Hành chính Paris (Bibliotèque de l'Hôtel de Ville) và Viện Viễn Đông Bác Cổ (EFEO), phục chế màu bằng công nghệ trí tuệ nhân tạo bởi Báo Lao Động.

- Trích hồi ký "Thương nhớ mười hai" của nhà văn Vũ Bằng -

Yêu tháng Chạp không biết bao nhiêu, nhưng yêu nhất là những ngày giáp Tết, thời tiết sao mà đã thế, con mắt tấm lòng sao mà đong đưa thế, lời nói, tiếng chào sao mà duyên dáng tơ mơ thế”

Fruit, Gesture, Font
Font

Khung cảnh tấp nập bên ngoài chợ Đồng Xuân một ngày giáp Tết Nguyên đán Kỷ Tỵ (1929).


CHỢ TẾT CỦA NGƯỜI HÀ NỘI XƯA

Hoa cúc, hoa thuỷ tiên và cây quất được bày bán tại chợ Đồng Xuân. Những năm đầu thế kỷ XX, chợ hoa lớn nhất của người Hà Nội nằm trong chợ Đồng Xuân. Sau đó chợ hoa Tết được dịch chuyển sang phố Hàng Khoai, Hàng Lược.


Hoa cúc vàng là biểu tượng của sự trường thọ, lòng hiếu thảo của con cháu với ông bà, cha mẹ. Trong ảnh: một người bán hoa cúc tại chợ Đồng Xuân - Tết Kỷ Tỵ (1929).


Hoa cúc vàng được bán rong trên phố trong những ngày giáp Tết.


Những người bán hoa đào trên phố. Theo quan niệm dân gian, cành đào ngày Tết không chỉ có tác dụng xua đuổi tà khí mà còn là biểu tượng của sự sinh sôi nảy nở, mang lại sinh khí mới cùng niềm tin và hy vọng về những điều tốt đẹp trong năm mới.  


Sạp bán hoa thuỷ tiên trong một ngày giáp Tết Kỷ Tỵ (1929). Trong dịp Tết Nguyên đán, các gia đình Hà Nội xưa đều có bát hoa thuỷ tiên với quan niệm rằng nhà nào có hoa nở đúng thời khắc giao thừa thì sẽ có được may mắn trong cả năm mới.


Sạp bán lá dong tại chợ Đồng Xuân trong một ngày giáp Tết Kỷ Tỵ (1929).


Trước Tết Nguyên đán, người Hà Nội thường đi chợ sớm để chọn mua những bó lá dong nếp. Lá dong được rửa sạch, treo ráo nước vài ngày trước khi sử dụng để gói bánh chưng.


Cá trắm được bày bán trong những ngày giáp Tết Nguyên đán Kỷ Tỵ (1929). Cá trắm đen kho cùng riềng, sả, ớt, nước chè tươi, nước dừa và mỡ gà là một trong những món ăn đặc trưng ngày Tết của người Hà Nội xưa.


Dãy hàng bán chuối tại chợ Đồng Xuân. Vào dịp Tết Nguyên đán, người Hà Nội xưa thường chọn những nải chuối xanh có số lượng quả lẻ để bầy mâm ngũ quả. Nải chuối mang ý nghĩa tâm linh đặc biệt với hình dáng giống như bàn tay ngửa lên hứng lấy những điều may mắn, phúc lộc. Nải chuối cũng tượng trưng cho hình ảnh con cháu quây quần, bao bọc lẫn nhau, cùng đón năm mới sum vầy, đầm ấm.


Cam là một loại quả không thể thiếu trong mâm ngũ quả ngày Tết của người Hà Nội. Chữ “cam” có nghĩa là ngọt, tượng trưng cho hy vọng về những điều may mắn sẽ đến với gia chủ trong năm mới. Trong ảnh: những người bán cam trên phố trong một ngày giáp Tết Kỷ Tỵ (1929).


Bưởi, kỳ đà, phật thủ, mía cũng là những thứ được bày bán nhiều tại chợ Tết Hà Nội xưa.


Một sạp bán hương vòng và hương thẻ để thắp trong những ngày Tết.


Một cửa hàng bán hoa giấy trang trí và đồ Tết trên phố tại Hà Nội.


Lễ cúng ông Công, ông Táo trong dịp Tết Nguyên đán của người Hà Nội xưa bắt buộc phải có các bộ mũ áo làm bằng giấy. Trong ảnh: một người làm hàng mã đang chế tác mũ ông Công, ông Táo trên phố - Tết Kỷ Tỵ (1929).


Quầy tranh Tết trên một con phố tại Hà Nội. Thay tranh mới trong nhà vào dịp Tết Nguyên đán là một nét sinh hoạt truyền thống của người Hà Nội xưa.


Rectangle, Font


TRẦN VĂN THƯỢC – NGUYỄN XUÂN SƠN

Trích sách “Sơ học yếu lược độc bản” – Nhà in Nguyễn Kính, ấn hành tại Hải Phòng năm 1927

Vào đúng tiết Khai hạ - ngày mồng Bảy tháng Giêng, các gia đình sẽ hạ cây nêu, kết thúc những ngày Tết truyền thống để trở lại nhịp sống sinh hoạt bình thường. Tuy nhiên trên thực tế, không khí Tết còn kéo dài tới tận tiết Thượng nguyên (ngày rằm tháng Giêng).

Gesture, Happy, Font
Body jewelry, Hand, Arm, Twig, Orange, Headgear, Font

Công việc chuẩn bị Tết Nguyên đán của người Hà Nội xưa thường bắt đầu từ ngày rằm tháng Chạp. Các nghi lễ cúng thổ công và gia tiên ngày rằm tháng Chạp cũng được chuẩn bị tươm tất, chu đáo, kỹ lưỡng bởi đây là ngày rằm cuối cùng của năm. Từ sau ngày này, các gia đình bắt đầu sửa sang, trang hoàng nhà cửa, thay thế các vật dụng đã cũ, mua sắm đồ đạc để chuẩn bị đón Tết.

Rằm tháng Chạp

01

Theo quan niệm của người Việt, ngày Hai ba tháng Chạp là tết ông Công ông Táo. Ông Táo (Táo quân) là vị thần bếp trong mỗi gia đình và cũng là người ghi chép tất cả những việc làm tốt xấu mà gia chủ đã làm trong năm, sẽ lên thiên đình để báo cáo với Ngọc Hoàng vào ngày Hai ba tháng Chạp. Vì vậy, vào ngày này, người Hà Nội xưa thường sửa soạn một mâm cỗ mặn kèm theo ba bộ áo mũ bằng giấy có màu sắc thay đổi theo ngũ hành của từng năm cùng ba con cá chép để tiễn chân Táo quân. Sau khi cúng, những người đàn ông trong nhà sẽ lau rửa và làm mới các đồ thờ tự (lư hương, đỉnh đồng, hoành phi, câu đối,…), dọn dẹp nhà cửa, quét vôi mới. Tranh Tết, hoa, cây cảnh và các vật dụng trang trí cũng bắt đầu được bày biện trong phòng khách từ ngày Hai ba tháng Chạp để sẵn sàng đón Tết. Với truyền thống uống nước nhớ nguồn và quan niệm sum họp đoàn viên ngày Tết không chỉ với người sống mà cả với những người đã khuất; sau ngày Hai ba tháng Chạp, các gia đình sẽ đi thăm mộ gia tiên, sửa sang mồ mả và “mời” tổ tiên về ăn Tết cùng gia đình, con cháu.

Hai ba tháng chạp

02

Ngày tất niên trong dịp Tết Nguyên đán là ngày 30 tháng Chạp (hoặc 29 tháng Chạp nếu là năm thiếu) thường được coi là ngày đoàn tụ các thành viên trong gia đình. Trong số những thứ mà người Hà Nội đi chợ sớm chọn mua vào ngày tất niên, không thể thiếu lá mùi già để đun nước tắm cho cả gia đình. Theo quan niệm, việc tắm lá mùi già vào ngày tất niên là để thanh tẩy, gột bỏ những chuyện không vui, những bụi trần vướng bận, những điều xui xẻo trong năm cũ; sẵn sàng đón nhận niềm vui trong năm mới.

Ngày tất niên

03

Theo quan niệm dân gian, giao thừa là thời khắc chuyển giao giữa năm cũ và năm mới, giao hoà giữa âm và dương, hội tụ linh khí của đất trời để vạn vật bừng lên sức sống mới. Đêm giao thừa của người Hà Nội xưa gắn với lễ trừ tịch mang ý nghĩa xua đuổi tà khí, gạt bỏ những điều xấu, rủi ro, xui xẻo trong năm cũ và đón rước may mắn, tài lộc, thành công trong năm mới. Đây cũng là khoảnh khắc bình an, đầm ấm, đoàn viên, tràn đầy yêu thương khi các thành viên trong gia đình đoàn tụ để “tống cựu, nghinh tân”. Sau lễ cúng giao thừa ngoài trời và cúng tổ tiên trong nhà; gia chủ sẽ xuất hành đầu năm theo hướng đã chọn sẵn, đi lễ tại các đình, chùa, miếu, phủ… để cầu phúc, cầu may cho một năm mới an lành.

Giao thừa

04

Flower, Plant, Petal, Flowerpot, Architecture, Yellow, Grass, Wood

Ba ngày tân niên là khoảng thời gian người Hà Nội xưa dành cho các hoạt động du xuân, lễ chùa, lễ phủ và thăm viếng họ hàng cùng người thân. Ngày mồng Một được coi là ngày quan trọng nhất trong toàn bộ dịp Tết Nguyên đán. Theo phong tục truyền thống, các gia đình sẽ chọn và mời người xông đất vào sáng sớm với ước vọng sẽ mang lại may mắn cho cả năm. Sau đó các gia đình sẽ làm mâm cỗ cúng gia tiên bên nội. Mồng Hai là khoảng thời gian để thăm viếng và chúc tết bên ngoại. Mồng Ba sẽ thực hiện việc chúc Tết thầy dạy học theo truyền thống tôn sư trọng đạo. Việc du xuân cũng được phân định lịch trình cụ thể: “Mồng Một chơi nhà, mồng Hai chơi ngõ, mồng Ba chơi đình”.

Ba ngày tân niên

05

Ngày Khai hạ

06

Đào và quất được bài trí trong nhà – Tết Kỷ Tỵ (1929).

Theo phong tục truyền thống, vào ngày 26 tháng Chạp, các gia đình sẽ dựng cây nêu bằng tre trước cửa để xua đuổi tà khí và những điều xui xẻo. Cây nêu cũng là một trong những biểu tượng báo hiệu bắt đầu dịp Tết Nguyên đán. Vào tiết Khai hạ (mồng Bảy tháng Giêng), khi cây nêu được hạ xuống cũng là thời điểm kết thúc dịp tết Nguyên đán.


Gian chính của một ngôi nhà Hà Nội xưa được trang hoàng để đón Tết. Ngoài phong cách bài trí quen thuộc gồm câu đối hai bên, tranh tứ bình ở giữa, chính diện là sập gụ, tủ chè và ban thờ gia tiên còn có cành đào xuân, hoa cúc, và hoa thuỷ tiên. Mâm quả bày ngày tết bao gồm bưởi, cam, quýt, lê, phật thủ…


Hình ảnh sum họp đoàn viên của một gia đình bốn thế hệ (tứ đại đồng đường) của người Hà Nội xưa trong dịp Tết Kỷ Tỵ (1929).


Một gia đình chụp ảnh lưu niệm trong dịp Tết Nguyên đán Kỷ Tỵ (1929). Đầu thế kỷ XX, việc chụp ảnh lưu niệm là một điều mới mẻ và xa xỉ, chỉ những gia đình giàu có mới có điều kiện để thực hiện việc này.


Bên cạnh kẹo mứt, bánh trái; thứ mà trẻ em mong mỏi nhất trong mỗi dịp Tết xưa là những bộ quần áo mới còn nguyên mùi hồ để trưng diện trong ngày xuân.


Các con về chúc Tết cha trong ngày mồng Một theo tục lệ. Ảnh chụp tại Hà Đông Tết Kỷ Tỵ (1929)


Font
Plant

Giếng Ngọc Hà vừa trong vừa mát

Vườn Ngọc Hà thơm ngát gần xa

Hỏi người xách nước tưới hoa

Có cho ai được vào ra chốn này?

Không chỉ là lễ vật thờ cúng hay trang trí ngày xuân, hoa Tết đối với người Hà Nội xưa còn là những biểu tượng văn hoá và việc chơi hoa ngày Tết cũng là một thú chơi tao nhã, cầu kỳ như chính cái cốt cách thanh lịch, tinh tế của mảnh đất “thượng đô kinh sư” ngàn năm văn hiến.

Hoa cúc tượng trưng cho tính khiêm tốn, điềm đạm của người quân tử; đồng thời cũng là biểu tượng của sự trường thọ, lòng hiếu thảo của con cháu với ông bà cha mẹ. Hải đường cánh to và nụ dày với mùi hương kín đáo, cắm trong bình sứ Bát Tràng men xanh là biểu tượng của sự phúc hậu, chín chắn, mặn mà của người phụ nữ Hà Nội xưa. Hoa đào mang khí dương, thân cành khẳng khiu, xù xì những rêu mốc của tiết đông nhưng nụ hoa hồng tươi rạo rực và lộc non xanh biếc bừng tỉnh như thời khắc chuyển mùa, biểu trưng cho uy lực của mùa xuân. Thuỷ tiên rễ trắng tinh khiết thả trong bát men trắng hoặc lọ thuỷ tinh, được gọt tỉa cầu kỳ và hãm nở đúng thời khắc giao thừa, đại diện cho cốt cách cao sang, kiêu kỳ, tinh tế của những cô con gái rượu trong các gia đình Hà Nội xưa.

Window, Photograph, Plant, Building, Temple, Lighting, Architecture

Thú chơi hoa Tết

- CA DAO -

Ở trên hiên gạch cao nhìn xuống sân, tôi thấy bóng thày tôi ngồi cắm cúi, lấy tay bóc khẽ từng cái vỏ, nhúng củ thủy tiên xuống chậu nước như một người mẹ nâng niu, tắm táp cho đứa con đầu lòng mới sinh, rồi đưa con dao con đánh bằng dây cót đồng hồ, mũi vẹt như ngọn thanh long đao của Quan Ngài, cắt, lượn, khía, tỉa, móc, xén... Cái bóng đó hàng giờ không quay lại hay ngẩng đầu lên...

- Trích bút ký "Ăn Tết thuỷ tiên" của nhà văn Vũ Bằng -

Fruit, Gesture, Font
Hat, Chair, Table, Window

Mâm cỗ đoàn viên khi các con về chúc tết cha tại Hà Đông – Tết Kỷ Tỵ (1929).

Ẩm thực ngày Tết

Hàng tháng trước Tết, người Hà Nội đã tranh thủ vỗ béo lợn, gà và tích lũy các món khô như măng, nấm hương, miến mọc, tôm he, bóng bì v.v. Còn các làng ngoại thành thì thi nhau tát ao, bắt cá chép, cá trắm to làm nồi cá kho... Các nguyên liệu làm mứt như múi khế, quả mơ, miếng bí đã được phơi khô trước đó cả tháng

- Trích bút ký "Tết Hà Nội xưa" của nhà văn Băng Sơn -

Fruit, Gesture, Font

Mâm cỗ tết của người Hà Nội xưa được coi là một trong những biểu tượng đặc trưng cho dịp Tết Nguyên đán bởi sự tinh tế về hình thức và cách chế biến cầu kỳ; thể hiện lòng thành kính của con cháu dâng lên tổ tiên trong lễ cúng và không khí đoàn viên của tất cả các thành viên nhiều thế hệ trong gia đình. Với những gia đình giàu có, đó là mâm cỗ “tám đĩa, tám bát”. Với những gia đình không có điều kiện thì mâm cỗ Tất niên cũng tươm tất đủ đầy dẫu cho quanh năm vất vả; với các món không thể thiếu là bánh chưng, xôi gấc, gà luộc, giò, canh măng, nem rán, cá trắm đen kho… Không chỉ cỗ Tết, các món quà vặt, bánh mứt ngày Tết của người Hà Nội xưa cũng in dấu những nét đặc trưng riêng của mảnh đất kinh kỳ.

Trong ba ngày Tết, buổi chiều thường cúng mứt, không cúng cơm. Mứt bí, mứt hạt sen, mứt lạc, mứt dứa, mứt quất, mứt gừng, mứt phật thủ, bánh phồng Vẽ, bánh huê Cầu và sấy. Bánh phồng Vẽ là thứ bánh bằng bột nếp do làng Vẽ làm, áo đường trắng, to bằng quả trứng gà, ăn giòn tan và như biến đi trong miệng, để lại một hương vị rất thanh. Bánh huê Cầu là thứ bánh cũng làm bằng bột nếp, vuông gần bằng ba ngón tay, màu vàng, xanh và đỏ, bỏ vào chảo mỡ đang sôi, bánh nở cong rất đẹp. Bánh huê Cầu do làng Xuân Cầu làm… Sấy là thịt lợn nạc đập bẹt như chiếc bánh đa nhỏ, ướp nước mắm ngào với đường và riềng rồi đem sấy khô, dùng để nhắm rượu thì ngon tuyệt.

- Trích hồi ký "Những năm tháng ấy" của nhà văn Vũ Ngọc Phan -

Fruit, Gesture, Font

Để trang hoàng nhà cửa đón Tết, các gia đình thường treo câu đối đỏ trong nhà và ngoài cổng với ước vọng cầu may mắn, bình an, mong ước một năm mới vui vẻ, hạnh phúc, làm ăn phát đạt, thành công. Nếu như ở các nơi khác, người dân muốn xin chữ hay câu đối trong dịp Tết thường đến nhà các ông đồ trong vùng thì ở Hà Nội những năm đầu thế kỷ XX, từ ngày 23 tháng Chạp, các ông đồ đã trải chiếu đợi khách thuê viết câu đối hoặc bán những chữ viết sẵn trên giấy điều tại phố Hàng Bồ. Những người không thích các câu đối viết sẵn thì trình bày tâm tư, nguyện vọng, mong ước của gia đình trong năm mới; các ông đồ sẽ viết những câu chữ phù hợp. Ngày xuân năm mới, khách đến chơi nhà, cùng thưởng trà và bình chữ, bình câu đối Tết là một thú chơi tao nhã của người Hà Nội.

Sun hat, Public space, Textile, Coat, Fashion, Temple, Art, Community, Selling


Một trong những nét sinh hoạt truyền thống của người Hà Nội xưa trong dịp Tết Nguyên đán là thú chơi tranh, chơi chữ.

Door, Plant, Building, Sky, Cloud

Thú chơi chữ, chơi tranh

Window, Textile, Flooring, Table

Ngoài câu đối thì tranh cũng là một món ăn tinh thần không thể thiếu trong ngày Tết của người Hà Nội xưa. Từ đầu tháng Chạp, phố Hàng Trống đã tấp nập người đến xem và chọn tranh. Dòng tranh Tết dân gian Hàng Trống, Đông Hồ, Kim Hoàng, Nam Hoành, Làng Sình… thường có màu sắc tươi vui, mang thông điệp cầu chúc cho gia chủ một năm mới phát tài phát lộc, vạn sự như ý theo từng chủ đề. Bộ đôi tranh “Vinh hoa”, “Phú quý” với cậu bé mũm mĩm ôm gà vịt tượng trưng cho điềm phúc. Tranh “Tố nữ” thể hiện vẻ đẹp dịu dàng, tinh khiết, mới mẻ và hoà hợp với thiên nhiên. Tranh “Tứ quý” thể hiện ước vọng bốn mùa Xuân – Hạ - Thu – Đông mưa nắng thuận hoà, mọi việc suôn sẻ. Tranh “Lý ngư vọng nguyệt” thể hiện ước vọng trong nhà có học trò thi cử đỗ đạt, như cá chép vượt vũ môn hoá rồng.

Ông đồ bày mực tàu giấy đỏ viết câu đối trên phố - Tết Nguyên đán Kỷ Tỵ (1929)


Đường phố Hà Nội trong một buổi sáng vắng lặng, bình yên (trước cửa toà soạn nhật báo “Trung Bắc tân văn”) – Tết Nguyên đán Kỷ Tỵ (1929)


Người Hà Nội xưa đi lễ và du xuân tại đền Ngọc Sơn trong dịp Tết Nguyên đán Kỷ Tỵ (1929).


Múa sư tử trong dịp Tết Nguyên đán Kỷ Tỵ (1929) tại một làng ngoại thành Hà Nội.


Không khí lễ hội trong dịp Tết Nguyên đán tại một ngôi làng ngoại thành.


Thi đấu roi trong ngày hội làng – Tết Kỷ Tỵ (1929).



Tổ chức sản xuất: Nguyễn Tuấn Anh

Biên tập: Tuấn Anh

Thiết kế: Hoàng Minh, Duy Hưng

Kỹ thuật đa phương tiện: Hoàng Minh

Hình ảnh tư liệu: Thư viện Hành chính Paris (Bibliotèque de l'Hôtel de Ville), Viện Viễn Đông Bác cổ (École françaised' Extrême-Orient)

Phục chế ảnh: Báo Lao Động

Một sản phẩm của Trung tâm Truyền thông Đa Phương tiện – Báo Lao Động